THÔNG BÁO
Tình hình sinh vật gây hại (SVGH) tháng 12/2024
Dự báo tình hình SVGH tháng 01/2025
I/ TÌNH HÌNH SVGH TRONG THÁNG 12/2024:
1. Trên cây ngô
- Bệnh khô vằn: Diện tích nhiễm 320,9 ha (Nhiễm nhẹ 308 ha, trung bình 12,9 ha). Diện tích đã phòng trừ 12,9 ha.
- Bệnh đốm lá nhỏ: Diện tích nhiễm 21,1 ha (Nhiễm nhẹ 17,2 ha, trung bình 3,9 ha). Diện tích đã phòng trừ 3,9 ha.
- Sâu đục thân, bắp: Diện tích nhiễm 90 ha (Chủ yếu nhiễm nhẹ).
- Rệp cờ: Diện tích nhiễm 2,4 ha (Chủ yếu nhiễm nhẹ).
2. Trên cây rau:
- Bệnh sương mai: Diện tích nhiễm 73,9 ha (Nhiễm nhẹ 63,1 ha, trung bình 10,8 ha). Diện tích đã phòng trừ 10,8 ha.
- Bọ nhảy: Diện tích nhiễm 33,5 ha (Nhiễm nhẹ 31,4 ha, trung bình 2,1 ha). Diện tích đã phòng trừ 4,2 ha.
- Sâu tơ: Diện tích nhiễm 3,3 ha (Nhiễm nhẹ 2,7 ha, trung bình 0,6 ha). Diện tích đã phòng trừ 2,7 ha.
- Sâu xanh: Diện tích nhiễm 98,5 ha (Chủ yếu nhiễm nhẹ).
3. Trên cây chè:
- Bọ cánh tơ: Diện tích nhiễm 250 ha (Chủ yếu nhiễm nhẹ).
- Bọ xít muỗi: Diện tích nhiễm 175,9 ha (Chủ yếu nhiễm nhẹ).
II/ DỰ BÁO TÌNH HÌNH SVGH THÁNG 01/2025:
1. Trên lúa xuân: Bệnh sinh lý, ốc bươu vàng hại rải rác.
2. Trên mạ xuân sớm: Rầy các loại, cào cào, châu chấu, ... gây hại rải rác. Chuột gây hại cục bộ.
3. Trên cây rau: Sâu xanh, bọ nhảy, sâu tơ, bệnh sương mai hại nhẹ. Sâu khoang, rệp, bệnh thối nhũn VK hại rải rác.
4. Trên cây chè: Bệnh đốm nâu, đốm xám hại rải rác.
5. Trên cây ăn quả: Rầy, rệp các loại, sâu vẽ bùa, bệnh thán thư, chảy gôm, bệnh loét sẹo phát sinh gây hại rải rác trên cây bưởi.
III/ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ:
1. Trên mạ, lúa xuân sớm Điều tra phát hiện rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen thu thập mẫu để phân tích giám định bệnh lùn sọc đen phương Nam, bệnh vàng lụi (vàng lá di động) để có biện pháp khoanh vùng và phòng trừ kịp thời.
+ Thực hiện biện pháp xử lý hạt giống trước khi gieo mạ.
+ Đối với diện tích mạ của Trà 1 và Trà 2 cần che phủ nilon để chống rét cho mạ và hạn chế các đối tượng sinh vật gây hại.
- Diệt chuột: Trong tháng 1 sẽ tập trung thu hoạch cây trồng vụ đông và cày bừa đổ ải phục vụ gieo cấy lúa, chuột sẽ di chuyển và ẩn nấp tại các bờ trục đường lớn, khu trang trại chăn nuôi, khu vực nghĩa trang, trồng cỏ, ... Do đó tổ chức diệt chuột ở những nơi ẩn nấp của chuột lúc này là rất hiệu quả, giảm thiểu sự gây hại cho vụ xuân. Tổ chức diệt chuột bằng biện pháp thủ công như: đánh bắt, hun khói, tu nước, quây lưới, .... hoặc diệt chuột bằng các loại bả, thuốc chuột có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam, ví dụ như Hicate 0.25WP, Ranpart 2%DS, Cat 0.25WP, RasGer 20DP, Rat K 2% DP, Rat-kill 2% DP, ..., trộn với thóc luộc nứt vỏ chấu, gạo, khoai lang, mộng mạ, cua, ốc, tép, ... để thành bả hoặc dùng bả trộn sẵn Broma 0.005AB, FORWARAT 0.005% WAX BLOCK, GIMLET 2.0GB…
2. Trên cây rau: Áp dụng biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp IPM/IPHM chỉ phun phòng trừ những diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh vượt ngưỡng bằng các loại thuốc đặc hiệu có trong danh mục đăng ký cho rau.
- Sâu xanh: Khi mật độ sâu trên 6 con/m2, sử dụng một số loại thuốc như: Dylan 2EC, Aremec 36EC, Kuraba WP, Catex 1.8EC (3.6EC), Pegasus 500SC, Pesieu 500SC, Emaben 2.0EC (3.6WG), Silsau 4EC, Newsodant 5EC, Altivi 0.3EC, Sokupi 0.36SL,...
- Bọ nhảy: Khi mật độ sâu trên 20 con/m2, sử dụng các loại thuốc như: Aremec 36EC, Prevathon 35WG, Shertin 3.6EC/ 5.0EC, Trutat 0.32EC, Eagle 5EC, Sokupi 0.36SL, Tasieu 5WG,...
- Sâu tơ: Khi mật độ sâu trên 20 con/m2 (giai đoạn cây con) hoặc trên 30 con/m2 (khi cây lớn), sử dụng một số loại thuốc như: Dylan 2EC, Aremec 36EC, Kuraba WP, Delfin WG, Comda gold 5WG, Pegasus 500SC, Pesieu 500SC, Emaben 2.0EC, Trutat 0.32EC, Match 050EC, Altivi 0.3EC, Sokupi 0.36SL,...
- Bệnh sương mai: Khi bệnh mới xuất hiện bệnh có thể sử dụng các loại thuốc BVTV được đăng ký trong danh mục thuốc BVTV, ví dụ như thuốc: Amistar 250 SC, Dipomate 80WP, Daconil 75WP/500SC, Carozate 72WP, Ortiva 560SC, Ranman 10SC, .... Nếu bệnh nặng có thể phun kép 2 lần (lần 1 cách lần 2 từ 5 đến 7 ngày).
3. Trên cây chè: Phun phòng trừ những diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh vượt ngưỡng.
4. Trên cây ăn quả (bưởi): Vệ sinh vườn, cắt tỉa và bón phân sau thu hoạch. Khi vườn bưởi bật lộc, ra nụ cần chú ý phòng trừ một số đối tượng như sâu vẽ bùa, rầy, rệp các loại, bọ trĩ, bệnh thán thư, chảy gôm để sâu bệnh không gây hại và ảnh hưởng lộc, nụ, hoa.
Lưu ý: Khi sử dụng thuốc BVTV xong phải thu gom vỏ bao bì để đúng nơi quy định của địa phương./.
|
|
|
DIỆN TÍCH, MẬT ĐỘ VÀ PHÂN BỐ MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG DỊCH HẠI CHÍNH
(Từ ngày 01 tháng 12 năm 2024 đến ngày 31 tháng 12 năm 2024)
|
TT |
Đối tượng |
Cây trồng |
Mật độ (con/m2), Tỷ lệ (%) |
Diện tích nhiễm (ha) |
Diện tích nhiễm so với cùng kỳ năm trước (ha) |
Diện tích phòng trừ (ha) |
Phân bố |
|||||
|
Phổ biến |
Cao |
Tổng số |
Nhẹ |
TB |
Nặng |
Mất trắng |
||||||
|
1 |
Bệnh khô vằn |
Ngô đông |
0,9 - 2,5 |
5,0 - 16;CB25 - 28(LT) |
320,9 |
308 |
12,9 |
|
|
15 |
12,9 |
Huyện Lâm Thao, Hạ Hòa, TX.Phú Thọ, Thanh Thủy, Yên Lập, Đoan Hùng, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Thanh Sơn |
|
2 |
Bệnh đốm lá nhỏ |
1,0 - 8,0 |
10 - 25;CB30 - 35(LT) |
21,1 |
17,2 |
3,9 |
|
|
1,1 |
3,9 |
Huyện Lâm Thao, Thanh Thủy |
|
|
3 |
Sâu đục thân, bắp |
0,5 - 4,0 |
6,7 - 13,3 |
90 |
90 |
|
|
|
-118,8 |
|
Huyện Hạ Hòa, Yên Lập, Thanh Sơn |
|
|
4 |
Rệp cờ |
2,7 |
17 |
2,4 |
2,4 |
|
|
|
2,4 |
|
Huyện Lâm Thao |
|
|
5 |
Bệnh sương mai |
Rau đông |
0,4 - 2,4 |
3,0 - 9,0;CB12 - 19(LT) |
73,9 |
63,1 |
10,8 |
|
|
48,5 |
10,8 |
Huyện Lâm Thao, Tam Nông, TP.Việt Trì, Phù Ninh, Cẩm Khê |
|
6 |
Bọ nhảy |
1,0 - 5,4 |
8,0 - 19;CB32(LT) |
33,5 |
31,4 |
2,1 |
|
|
16,9 |
4,2 |
Huyện Lâm Thao, TX.Phú Thọ, TP.Việt Trì |
|
|
7 |
Sâu tơ |
1,6 - 4,1 |
5,0 - 15;CB32(LT) |
3,3 |
2,7 |
0,6 |
|
|
-8,4 |
2,7 |
Huyện Lâm Thao |
|
|
8 |
Sâu xanh |
0,3 - 1,0 |
3,0 - 8,0 |
98,5 |
98,5 |
|
|
|
-23,8 |
|
Huyện Thanh Sơn, TX.Phú Thọ, Tam Nông, TP.Việt Trì, Cẩm Khê |
|
|
9 |
Bọ cánh tơ |
Chè |
0,5 - 1,4 |
4,0 - 9,0 |
250,0 |
250,0 |
|
|
|
250,0 |
|
Huyện Thanh Sơn |
|
10 |
Bọ xít muỗi |
0,6 - 1,2 |
4,0 - 8,0 |
175,9 |
175,9 |
|
|
|
-250,0 |
|
Huyện Thanh Sơn |
|
Những năm qua, nguồn vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân (HTND) các cấp đã trở thành "luồng gió mới" tiếp sức cho hàng nghìn hộ dân trên địa bàn xã Quyết Thắng mạnh dạn đầu tư sản xuất. Không chỉ hỗ trợ tài chính, Quỹ còn góp phần quan trọng trong việc hình thành các mô hình kinh tế tập thể, giúp nông dân thay đổi tư duy từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị.
Trong những năm qua, Quỹ Hỗ trợ nông dân đã trở thành nguồn lực quan trọng giúp nhiều hội viên nông dân mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và từng bước vươn lên làm giàu chính đáng. Tại xã Thung Nai, mô hình nuôi cá lồng trên lòng hồ Sông Đà đang phát huy hiệu quả rõ nét nhờ sự đồng hành, hỗ trợ thiết thực từ tổ chức Hội.
Thực hiện Công văn số 136-CV/HNDT ngày 17/4/2026 của Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh về kiểm tra công tác nhận ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đoàn công tác do đồng chí Nguyễn Thị Hương Hải - Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh làm trưởng đoàn đã kiểm tra thực tế tại Hội Nông dân 03 xã (xã Kim Bôi, xã Mường Động và xã Nật Sơn), 06 tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) và 30 khách hàng.
Chiều ngày 28/04/20026, Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Nông dân xã Thanh Thủy tổ chức giải ngân nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân cho dự án Nuôi Gà thương phẩm tại khu 3, thị trấn Thanh Thủy - xã Thanh Thủy. Dự buổi giải ngân có đồng chí Đặng Việt Anh – Phó Ban Công tác Nông dân, Giám đốc Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh; đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, Chủ tịch Hội Nông dân xã Thanh Thủy, các đồng chí ủy viên Ban Thường vụ Hội Nông dân xã, cùng 07 hộ hội viên được vay vốn.
Chiều ngày 17/4/2026, Hội Nông dân xã Vĩnh Hưng đã tổ chức Hội nghị giải ngân nguồn vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh cho các hội viên tham gia dự án phát triển kinh tế trên địa bàn.
Trong những năm qua, cùng với việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, Hội Nông dân xã Lâm Thao luôn xác định Quỹ Hỗ trợ nông dân là công cụ quan trọng, là “đòn bẩy” giúp hội viên nông dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống. Việc quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ Quỹ không chỉ góp phần giải quyết nhu cầu vốn cho nông dân mà còn tạo điều kiện hình thành và nhân rộng nhiều mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.